24 tháng 12, 2007

Giới thiệu trang gia chánh nấu chay của Việt Fun

2 cách làm Pate Chay



1. Vật liệu
- 2 bánh đậu hũ tươi loại cứng, để ráo nước.
- 1 củ hành tây, bằm nhỏ.
- 1 củ leek(tỏi tây) phần trắng bằm nhuyễn. ( * )
- 4 muỗng lớn sữa bột.
- 2 muỗng cafe cocoa/chocolate bột.
- 1 muỗng lớn margarine/butter.
- Nấm búp tươi/nấm rơm tươi rửa sạch, để ráo nước, bằm nhỏ sơ sơ.
- 3 muỗng lớn dầu olive
- Bột nêm
- Muối, tiêu

2. Cách làm

- Phi hành tây và leek lên cho vàng, cho thơm, thêm muối, bột nêm và cho margarine/butter vào, quậy tan. Nhắc xuống để nguội.

- Đậu hũ để vô máy xay sinh tố, xay nhuyễn cùng với nấm. Kế đến trộn hỗn hợp hành, leek, margarine/butter, gia vị ở trên vào. cho bột cocoa/chocolate bột và sữa bột vào trộn đều.

_ Đổ tất cả hỗn hợp vào tô lớn, rắc tiêu lên mặt. Thoa dầu lên plastic, phủ kín lên tô, dùng tay đè qua lớp plastic để ém thật chặt hỗn hợp trong tô và làm cho bề mặt thật mịn thật láng, bằng phẳng, đậy plastic lại chặt, bỏ vào microwave hấp khoảng 5-6 phút là ăn được rồi.

Món này dùng chung với bánh mì, cả chua, xá xíu, sauce mayonaise chay, dưa leo, đồ chua, hành ngò, ớt tươi.

(*) Chú ý : Những ai trì chú hay ăn chay trường thì nên hạn chế dùng tỏi


Dùng loại pate này kèm với chả chay, đồ chua, dưa leo, bánh mì và rau sống, cà chua sẽ rất hấp dẫn.

Nguyên liệu:

- 1/2 kg nấm rơm, gọt bỏ chân, rửa sạch ngâm trong nước muối pha loãng, để ráo, băm nhuyễn.

- 2 miếng đậu hủ trắng, bóp nhuyễn.

- 100 g bơ đậu phộng.

- 50 g bột đậu đen.

- 50 g bột đậu đỏ.

- 50 g bơ thơm.

- Kiệu tươi, bóc vỏ, băm nhuyễn.

- Muối, tiêu, đường, dầu ăn.

Thực hiện:

Ướp nấm với kiệu, muối, đường. Ướp đậu hủ với kiệu, muối, đường. Phi kiệu cho thơm, trút nấm, đậu hủ vào xào. Khi hơi cạn nước, cho bơ đậu phộng, bột đậu đen, bột đậu đỏ vào đảo đều và bơ. Thoa bơ xung quanh khuôn, múc hỗn hợp trên vào khuôn ém chặt. Và phết một ít bơ lên mặt. Hấp cách thủy 10-15 phút, đem ra để nguội. Cho vào tủ lạnh. Nếu muốn có mùi thơm, sau khi hấp có thể cho vào lò nướng nướng lại khoảng 10 phút.

Bí quyết bảo quản đậu phụ


Bạn nên chọn đậu có màu trắng kem, ít hoặc không có mùi, được bảo quản trong nước sạch. Nếu nước có màu trắng đục, phải thay nước khác ngay.

Đậu phụ là sản phẩm từ đậu nành giàu protein. Đậu phụ còn có thể hấp thu hương vị của các thành phần khác trong món xào, súp, canh… Nó trở thành món ăn ưa thích của nhiều gia đình và các đầu bếp chuyên nghiệp trên thế giới.

Để bảo quản đậu phụ được tươi ngon khi chế biến, bạn hãy tham khảo những cách sau:

- Rửa miếng đậu nhẹ nhàng khi vừa mua về. Để giữ đậu tươi lâu, ngon và chắc, cất chúng vào tô sạch, đổ ngập nước rồi đậy nắp. Đậu phụ dễ hấp thu mùi vị nên cần đậy nắp cẩn thận.

- Thay nước hằng ngày. Đậu phụ thường chảy nước nên nó sẽ bị chua nếu bạn không rửa chúng thường xuyên.

- Để bảo quản đậu phụ cho bữa ăn sau, cho chúng vào túi bóng, bóp hết khí rồi buộc chặt, sau đó cho vào ngăn đá tủ lạnh. Đậu phụ đông lạnh có thể cất giữ trong 6 tháng.


(Theo Tìm Nhanh)

Giới thiệu trang gia chánh nấu chay của TruyệnViệt.com




Nhấp chuột vào link dưới đây


Giới thiệu trang gia chánh nấu chay của bác sĩ Kim Anh



Nhấp chuột vào link dưới đây để vào trang nhà


Giới thiệu trang gia chánh nấu chay của Trung Tâm Thiền Quán Sinh Thức


Xin giới thiệu đến với quý vị những món ăn chay ngon và bổ dưỡng do các chị trong tăng thân Sinh Thức thực hiện. Ðây là những món ăn chay dể nấu, có hình ảnh và sự chỉ dẫn rõ ràng. Ngoài ra quý vị cũng có thể liên lạc thẳng với các chị đảm nhiệm để đóng góp, chia xẻ ý kiến hay hỏi thêm về cách thức nấu.

Kính chúc quý vị có những món ăn chay thật ngon

Nhấn chuột vào link dưới đây

22 tháng 12, 2007

Sức khoẻ từ sự cân đối giữa khẩu vị và màu sắc

Chúng ta vẫn thường biết đến 5 vị: đắng, mặn, ngọt, chua và cay. Tuy nhiên, ít người trong chúng ta biết rằng, xây dựng một bữa ăn kết hợp tất cả các vị này và lựa chọn hợp lý màu sắc của thực phẩm sẽ giúp cơ thể luôn cân đối và khỏe mạnh. Hãy xem mỗi một vị, cũng như màu sắc thực phẩm cần phải có vị trí như thế nào trong sức khỏe tổng thể của bạn :

Tác động của các vị đến cơ thể:

- Vị đắng: có tác dụng tốt tới tim và ruột. Ngoài ra còn kích thích tiêu hóa.
- Vị chua: giúp phục hồi gan và mật.
- Vị ngọt: có tác dụng tốt đến dạ dày, lá lách, tuyến tụy.
- Vị mặn: có tác dụng tốt với thận, cơ quan sinh dục và bọng đái.
- Vị cay: tác dụng tới phổi.

Lưu ý: bạn chỉ nên dùng một lượng nhỏ tất cả các vị này. Nếu dùng nhiều sẽ có tác dụng ngược lại.

Thường ở các món ăn Châu Âu chỉ có ba vị: ngọt, mặn và cay. Khi đó, tim, ruột và gan không được “ăn no” còn thận thì lại được cung cấp quá nhiều. Kết quả là tim “thừa mỡ”; ruột không hấp thụ được tất cả các chất từ thức ăn và dẫn tới không phân hủy protit; thận không "thanh lọc" được các chất béo... Trong trường hợp này, để lấy lại "phom" người chuẩn, bạn cần phải uống nước thường xuyên.

Tác động của màu sắc đến cơ thể

Bạn luôn cần một bữa ăn có nhiều màu sắc. Một bữa ăn lý tưởng là khi có đủ 16 màu của rau củ và hoa quả. Mỗi một màu đều có tác dụng với từng vùng của cơ thể:

Rau củ màu cam:
Cung cấp beta - carotin, tiền chất vitamin A.
Nó có chức năng bảo vệ, ngăn ngừa các tế bào ung thư phát sinh và phát triển. Ngoài ra, nó còn ngăn ngừa các bệnh liên quan đến tim mạch.

* Lưu ý: để hấp thu tối đa, nên dùng nhóm rau màu cam với dầu thực vật. Tốt hơn cả là nên luộc hoặc hầm loại thực phẩm này.

Rau củ màu đỏ:
Chứa licopen, được biết đến là chất chống ung thư, đặc biệt là ung thư dạ dày và tử cung. Ngoài ra, licopen còn có tác dụng ngăn ngừa các bệnh về tim mạch và giảm lượng cholesterol.

Rau củ màu tím:
Rất giàu chất chống ôxy hóa. Những chất này giúp bảo vệ vitamin E trong tế bào. Ngoài ra, nó còn giúp ngăn ngừa bệnh ung thư và các bệnh về tim mạch.
* Chú ý: cần phải sử dụng loại rau củ này khi còn tươi.

Rau củ màu vàng:
Chứa nhiều chất bioflavonoids rất tốt cho cơ thể. Ví dụ như khoai tây có thể ngăn ngừa và chữa các bệnh viêm loét. Món khoai tây bóc vỏ nướng rất có lợi cho hệ tiêu hóa.

Rau củ màu xanh:
Giàu chất diệp lục rất tốt cho hệ mạch. Chất này có tác dụng làm sạch gan, máu, xoang mũi, xoang trán và kích thích tiêu hóa. Loại rau củ này có thể ăn sống hoặc chỉ chần qua nước sôi.

- Hường Anh - Theo pravda.ru

Cách làm chao


Chao là món không thể thiếu trong thực đơn chay. Đôi khi người ta dùng chao như một loại gia vị, có khi lại dùng như nước chấm, lại có lúc chao dùng như một loại thức ăn bình dị mà không kém phần hấp dẫn. Cách làm chao đơn giản đến không ngờ...

1- Đậu hũ lựa loại dày và chắc, rửa sạch, để ráo, cắt quân cờ.

2- Dùng lá chuối xé tơi lót trong rổ tre, xếp đậu hũ lên trên.

3- Xếp thêm lớp lá khác lên đậy lại sao cho đậu kín gió, hầm hơi và nổi meo.

4- Để khoảng 3 ngày là đậu nổi meo dùng được, lấy ra rửa sơ lại bằng nước lạnh, không được rửa kỹ, đậu sẽ trôi hết meo.

5- Pha nước muối với nước lạnh theo tỷ lệ sao cho khi ta bỏ hạt cơm trắng vào, hạt cơm nổi lên là được.

6- Sắp đậu vào hũ. Đổ vào đó 2/3 nước muối, 1/3 rượu trắng, thêm ớt bột hoặc tiêu sọ tuỳ thích, đậy nắp kín, phơi nắng.

7- Chờ vài tuần cho chao nổi lên là chao đã tới, ăn được và ngon. Để càng lâu chao càng ngấm và ngon hơn.

Như Ý(Nguồn : Món Ngon)





Bạn đọc góp ý :

Tuy nhiên cách làm đã có hôm nào ai chán mấy lọ chao trung quốc thấy hình dạng cũng dơ dơ ớn ớn (không biết có chứa tạp chất gì gây ung thư không nữa !!)

Trong cách làm này, không thấy hướng dẫn phải luộc đậu hũ với nước muối trước khi ủ mốc nhỉ. Nếu đậu không mặn thì dễ lên men thối chung với lên mốc.

Đậu cần ép hết sạch nước. Dùng vải xô phủ đậy đậu phụ trong quá trình để ở nhiệt độ thường chờ lên mốc, nếu không dùng lá chuối như bài trên hướng dẫn. Nhiệt độ để đậu phụ lên mốc tốt là khoảng 28 - 30°.

Không dùng nước lã bỏ vào Chao, cần làm tiệt trùng cho sạch sẽ, kể cả lọ ngâm Chao.

Chuẩn bị một đĩa muối bột đã rang, khi thấy mặt đậu phụ lên mốc đều thì đem chấm những miếng đậu phụ vào đĩa muối, chấm cho các mặt miếng đậu đều bám kín muối. Xếp đậu vào lọ thủy tinh đã tiệt trùng. Đổ rượu gạo vào lọ, ngâm khoảng 25 ngày thì dùng đươc. Khi ăn chỉ lấy miếng Chao, không lấy rưou.

Ăn Chay Dinh Dưỡng


Nhân dịp đầu năm phong tục người Hoa Kỳ thường hứa thực hiện làm những điều tốt hơn cho năm, điều mà rất nhiều người Mỹ hứa làm là sửa đổi lại cung cách ăn uống, hay cách sống, vì muốn tránh các căn bệnh mập phì hay những bệnh do tim mạch,... tôi xin viết ra những điều mà trước đây tôi trao đổi với những người bạn của tôi, dù là những điều kể ra đây rất sơ đẳng với nhiều người, nhưng nó có thể mua vui cho một số người khi đọc qua vì trái cây hay rau cải, mà sách vở hay các y sĩ thường khuyên nhủ. Chúng ta nên ăn vào vì những lợi ích của nó.

Những Loại Trái Cây Thông Dụng:

Cantaloupe( Rock Melon ):
Người dân Cali may mắn vì Cali là tiểu bang trồng cantaloupe nhiều tại Hoa Kỳ. Cantaloupe có mùi thơm dịu khi chín, thịt màu cam (orange-fleshed), chứa nhiều chất beta-carotene, potassium và sinh tố C.

Dưa hấu:
Dưa hấu Hoa Kỳ giống to hơn dưa hấu Việt Nam, chung qui dưa hấu là khi chín có vị ngọt, màu đỏ hay hồng đẹp mắt, nước nhiều. Điều quý là nó cho nguồn dinh dưỡng dồi dào từ lycopene, các sinh tố A, B1, B6, C, E, Patassium và Magnesium.

Dưa Honeydew:
Honeydew có hương vị thơm nhạt, cơm màu trắng ngà, honeydew không chứa nhiều chất dinh dưỡng như dưa hấu và cantaloupe, tuy nó cũng chứa vitamin C và vị thơm ngọt khi chín.

Dâu tây (strawberry):
Cali cũng là nguồn cung cấp strawberry đứng đầu của Hoa Kỳ, những quận trồng dâu từ bắc xuống nam, từ Santa Cruz xuống San Diego, như San Benito, Monterey, San Louis Obispo, Santa Barbara, Ventura, Orange,... có những cánh đồng trồng dâu san sát nhau, những thửa ruộng khi mùa dâu chín đỏ bao la. Năm 2000, California sản xuất 1.5 tỷ pounds dâu tây. Dâu chứa nhiều sinh tố A, C, Patassium, Calcium, Phosphorous và Magnesium. Cái hấp dẫn khi ta bị lôi cuốn bởi những trái dâu to, chín đỏ, mùi thơm và vị chua ngọt khi chín.

Khóm/Thơm:
Khóm tại Mỹ phần lớn cung cấp bởi Hawaii, khóm Mễ hay Nam Mỹ không là đối thủ của Hawaii. Nhưng khóm Bến Lức của Việt Nam mình không chê vào đâu, mỗi khi về miền tây qua Long An và Bến Lức không ăn vài miếng khóm là thiếu sót lớn. Khóm là loại trái cây cho nhiều chất dinh dưỡng như C, B1 (Thiamin), B2 (Riboflavin), Sắt, Calcium, Manganese, Carotene, đường Glucose. Khóm có tính mát, lợi tiểu (diuretic) và tốt cho mục đích niệu khoa, trị bệnh sạn thận.

Kiwi:
Kiwi ít thông dụng trong sinh hoạt gia đình của người Việt chúng ta. Nhưng người phương tây dùng nó trong các lãnh vực làm trang hoàng bánh, làm kẹo hay nước juice sinh tố (smoothie, kem, yaourt,..). Trữ lượng tiềm tàng trong kiwi là điều ngạc nhiên chúng ta, nó chứa mức sinh tố C nhiều hơn cam 5 lần, nhiều hơn quả bơ (Avocado) 2 lần sinh tố E, nhưng chỉ bằng 60% về calories so với avocado, và chứa nhiều Potassium hơn chuối tính theo từng ounce. Chưa kể các chất như Folic acid (sinh tố B9), Lutien, Beta-Carotene, Selenium, Đồng, Manganese, chất xơ (Fiber) rất cao. Có lẽ vì độ chua nhiều của nó nên người ta ít dùng như khóm hay dâu.

Nho:
Nho có nhiều loại, nhưng về màu có 3 màu xanh, đen và đỏ. Theo các khảo cứu y học thì nho đỏ và đen tốt cho bệnh nhân tim mạch. Nho chứa vitamin A, C, Calcium và Sắt.

Táo:
Táo cũng có nhiều giống như Granny Smith, Red Washington, Braeburn, Golden, Rome, Gala, Fuji,... trong cộng đồng người Việt có lẽ thích hai loại Gala và Fuji vị cơm dòn và ít chua. Giới y khoa thường khuyên nên ăn mỗi ngày một quả táo là sức khoẻ chúng ta tránh được bệnh tật. Táo chứa vitamin C và nhiều Fiber.

Citrus:
Nói chung đây là dòng họ cam, chanh, bưởi, quất, quít. Chúng được chia làm nhiều giống. Tại Việt Nam cam nổi tiếng là cam Cái Bè ở miền nam, cam Bố Hạ ở miền bắc, nước nhiều và ngọt lịm. Tại Mỹ có cam Cali, cam Texas và cam Florida là thịnh hành. Cam và các loại citrus nói chung chứa nhiều vitamin C, ngoài ra là calcium, Fiber và sinh tố A.

Đào:
Cùng chủng tộc là peach, apricot và nectarine. Đào chứa sinh tố A, C và Fiber.

Mận (tây):
Mận tây là plum hay prune có rất nhiều giống. Vì chứa nhiều chất xơ nên mận tốt cho mục đích nhuận trường, mận chứa sinh tố A và C.

Lê:
Lê cũng có nhiều giống từ các quốc gia khác nhau. Lê có loại Bosc, Barlette, Anjou, Lê Tàu, Nhật, Đại Hàn,... Lê chứa sinh tố A, C, Calcium và nhiều Fiber.

Chuối:
Chuối tại Mỹ nhập cảng từ các xứ Costa Rica, El Savador, Ecuador và Mễ. Chuối thường được gọi đùa là thức ăn cho ông dịa và loài khỉ, thực ra vì nguồn trữ lượng Potassium và Fiber dồi dào, nên con người cần ăn chuối. Vã lại chuối quen thuộc với cả hoàn vũ, người ta nấu chè, chuối ép, chuối phơi khô, chuối chiên, làm kẹo, làm bánh, yaourt, kem,... cho những thức ăn đa dạng.

Đủ đủ:
Mùa Xuân, Tết đến đu đủ đóng vai trò quan trọng trong mâm ngũ quả. Đu đủ miệt Lái Thiêu, Long Khánh, Xuân Lộc rất ngon. Đu đủ tại Mỹ được nhập cảng từ Trung Mỹ, Mễ hay Hawaii. Đu đủ chứa vitamin A, C, Calcium, nhiều Beta-Carotene, Sắt và Fiber.

Xoài:
Đây là loại trái cây cần trong mâm ngũ quạ, được đọc trại là "sài". Xoài ngày nay đã thông dụng tại thị trường Mỹ hơn là 3 thập niên về trước. Xoài cũng có nhiều giống. Xoài tại Mỹ có giống xoài Thanh Ca và xoài Kent (xơ nhiều thua xoài Cát của Việt Nam). Xoài chứa sinh tố A, C, Fiber, Glucose và nhiều Beta-Carotene.

Dừa:
Đây là loại thứ 3 cần trong mâm ngũ quả vào ngày Tết và nó theo lối đọc trại của người miền nam là "vừa". Dừa được dùng trong nhiều món nấu ăn như cần luôn cho món thịt kho nước dừa. Nước dừa đuợc phổ thông hóa trong ngành gia chánh của Việt Nam hay nhiều sắc dân thế giới. Người Polynesians có món cơm gáo dừa, tức họ chiên cơm rồi cho vào quả dừa tươi không có nước, vì nước dừa được dùng để nấu cơm rồi. Nước dừa tươi có chứa Potassium, Vitamin C, Sodium và Sắt.

Khế:
Khế không lạ với người Việt trong vài món ăn đặc thù như bò bảy món, nem nướng cần chuối chát, khế chua. Khế khi chín cho vị ngọt. Khế chứa nhiều vitamin C, Fiber. Khế được dùng làm nước giải khát. Vì khế mang đặc tính mát, trị phong nhiệt theo Đông y, phòng lỡ loét và tốt cho mục đích lợi tiểu.


Hãy Ăn Thêm Rau Cải:

Rau dền Mỹ (Spinach):
Rau dền Mỹ, hay nguoi Hoa gọi là bó xôi, một loại rau màu xanh, có nhiều chất carotenoids, gồm các dưỡng chất beta-carotene và lutein, cũng như chất quercetin, một hóa chất từ rau cải có đặc tính chống sự ốc xýt hóa gây ra ung thư. Rau bó xôi chứa nhiều chất dinh dưỡng và khoáng chất như Folic acid, sinh tố C, K, chất sợi, Magnesium, Manganese và nhiều Potasium. Rau bó xôi dễ ăn, hơi nhớt, có thể ăn sống hoặc luộc, xào hay nấu canh, nấu soup kem (creamy soup) đều ngon.

Bông cải xanh: (Broccoli)
Bông cải xanh hay broccoli khi ăn sống, xào hay luộc sơ cho độ dòn rất khoái khẩu. Broccoli tương tự như bó xôi, có chứa nhiều sinh tố như vitamin C, Folic acid, Beta-carotene, chất sợi, Potassium và chất Sulforaphane ngăn ngừa mầm ung thư. Broccoli được quảng cáo rầm rộ từ nhiều năm nay là tốt cho việc dinh dưỡng và đề phòng ung thư, nhất là ung thư nhiếp hộ tuyến, một nan đề của đàn ông thì một dạo ông tổng thống Bush bố (tổng thống thứ 41 George Herbert Bush) kể chuyện xưa với báo chí là hồi nhỏ ông rất sợ ăn broccoli mỗi khi mẹ ông thường ép ông ăn broccoli.

Bông cải trắng: (Cauliflower)
Như broccoli hay bắp cải, bông cải trắng có thể ăn tươi hay xào, luộc sơ bông cải cho cơm (texture) rất dòn. Bông cải trắng chứa nhiều sinh tố C, Folic acid, chất sợi. Những cuộc khảo sát khoa học thực nghiệm cho thấy bông cải trắng chứa hợp chất Flavonoid và sự dồi dào của nguồn sinh tố C làm mạnh màng thành vách trong các ống dẫn trong các hệ thống tiêu hóa, bài tiết, hô hấp, tuần hoàn,... như dạ dày, đại tràng, nhiếp hộ tuyến, tử cung hay vùng ngực, phổi,...
Nhà văn Mark Twain vốn thích bông cải trắng, ông đề cao nó như một loại bắp cải cần đến kiến thức đại học, ngụ ý nói rằng bông cải trắng tuy rẻ tiền nhưng cần tìm hiểu và ăn lấy nó.

Măng tây: (Asparagus)
Măng tây có hai loại, loại xanh và loại trắng. Măng tây có dồi dào chất Folic acid, và chất glutathione, có trong thực vật rau cải, chất này chống ung thư rất hữu hiệu. Ngoài ra măng tây chứa dồi dào chất sợi, thiamin, sinh tố C, B6, trong măng xanh có chất beta-carotene. Măng tây còn có quercitrin, sinh ra từ ruta graveolens, rất tốt cho việc ngăn ngùa sự ốc xýt hóa tế phá hủy thành vách động mạch.

Bí rợ: (Pumpkin)
Bí rợ hay bí đỏ thường thấy nhiều vào dịp cuối năm vào các lễ Halloween hay Thanksgiving. Bí rợ chứa nhiều chất dinh dưỡng như chất đạm, chất sợi, iron, copper, magnesium, manganese va` phosphorous, cũng như amino acid, arginine và glutamic acid. Riêng hạt bí có chứa chất linolenic acid, dùng cho việc ngăn ngừa cho chứng làm chai cứng thành vách động mạch.

Bí đao/Bầu:
Bí đao thông dụng với người Việt chúng ta, nó có cùng dòng họ với bầu vì hình dáng, cũng như cơm hay vị ngọt khi nấu chín. Theo Đông y thì bí đao hay bầu mang đặc tính mát, có công dụng làm nhuận trường vì dồi dào chất xơ và tạo làn da trắng mịn, cũng như làm giảm chất béo. Bí và bầu xuất hiện trong văn chương Việt Nam qua câu ca dao bất hủ: "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn". Bầu hay bí cho ta các thành phần của hợp chất dinh dưỡng của nó từ chất đạm, chất sợi, các sinh tô’ A, C, Folic acid, Calcium, Magnesium, Phosphorous, và nhiều Potassium. Bí và bầu được làm nước giải khát phổ thông trong lon như tại Trung Quốc, Đài Loan, Singapore.

Cà rốt:
Cà rốt là loại rau cải rất phổ thông có thể ăn sống, trong salad, xay uống nước hay nấu soup, xào, luộc trong vô số món. Cà rốt, theo Đông y, mang vị ngọt, tính bình, có công dụng bổ tỳ, tiêu thực, nhuận trường vì nhiều chất xơ, tẩy độc tố trong gan, làm sáng mắt, thường được dùng để dưỡng da, trị chứng da khô. Trong các loại nước giải khát Đông y, người ta thường thêm cà rốt vào vì mục đích thanh nhiệt và giải độc. Đây là loại thực phẩm rất giàu vitamin A, B, C, có lợi ích cho quá trình chuyển hóa và tái tạo làn da. Ngoài ra, cà rốt chứa nhiều chất beta-carotene, lecithin, pectin và chất đạm. Cà rốt cũng là thực phẩm chống sự ốc xýt hóa tế bào gây ra mầm ung thư.

Khổ Qua:
Khổ Qua còn được gọi là mướp đắng, ngày nay khắp nơi đều biết cái công dụng độc đáo của nó là vị nhẫn hay đắng đó có công dụng làm hạ lượng đường trong máu. Người ta ăn khổ qua, uống trà khổ qua. Hợp chất saponin trong cái đắng của khổ qua là vị thuốc có chứa chất Chararantin (như dạng insulin) và Alkaloid. Trong mướp đắng người ta tìm ra rất nhiều dưỡng chất có lợi ích cho cơ thể như: Alkaloids, Charantin, Charine, Cryptoxanthin, Cucurbitins, Cucurbitacins, Diosgenin, Galacturonic acids, Gentisic acid, Goyaglycosides, Goyasaponins, Gypsogenin, Lanosterol, Lauric acid, Linoleic acid, Linolenic acid, Momorcharasides, Momorcharins, Momordenol, Momordicilin, Momordicins, Momordicinin, Momordicosides, Momordin, Oleanolic acid, Oleic acid, Oxalic acid, Peptides, Petroselinic acid, Polypeptides, Rubixanthin, chất đạm, chất sợi, các sinh tố A, C, Folic acid,...

Theo Bảng Đề nghị Ăn kiêng cho người Hoa Kỳ , ấn bản 2005 (The 2005 Dietary Guidelines for Americans), do Bộ Nông Nghiệp Mỹ ấn hành thì chúng ta hãy ăn thêm nhiều trái cây và rau cải. Người lớn cần 2,000 calories để duy trì trọng lượng và sức khoẻ, nên tài liệu khuyến cáo mỗi người chúng ta nên ăn ít nhất 9 servings hay 4 cup rưởi trái cây hay rau cải hàng ngày. Những loại rau màu xanh (dark-green leafy vegetables), những loại trái cây hay rau cải có màu vàng, cam, đỏ nên chú trọng (ví dụ như đu đủ, dâu, mận, đào, dưa hấu, cantaloupe, bí rợ, cà rốt, cam, khóm, cà chua,...) ăn thêm vào trong thức ăn mỗi ngày. Theo phần trình bày trên thì bảng đề nghị này cũng dễ hiểu, và đó chính là sự ích lợi cho cơ thể của chúng ta vậy.

Tóm lại, xét qua những loại trái cây hay rau cải trong phần nêu trên, phần lớn ê hề tại Mỹ, như tại Cali, ngoại trừ khế. Vấn đề chính là chúng ta có bằng lòng ăn hay không, như ví dụ cho vui giữa hai ý đối nghịch nhau, giữa hai vị cựu tổng thống George H. Bush và nhà văn Mark Twain. Đầu năm người phương tây như người Mỹ thường hứa hẹn sẽ làm điều tốt cho năm thì người viết cũng muốn đề nghị với các bằng hữu, các bạn bè vốn ít ăn hay không thích ăn trái cây và rau cải, xin quý vị hãy xét lại và thử thay đổi lối sống hằng ngày qua lời hứa hẹn đầu năm (New Year’s resolution) là quý vị sẽ tin va sẽ làm, quý vị nhé!.

Việt Hải, Los Angeles

Canh khổ qua dồn đậu hủ


Vật liệu:

- 3 trái khổ qua lớn, cắt làm 2
- 2 chén nước súp chay
- 2 chén nước lọc
- ⅛ muỗng cà-phê muối
- Vài cọng hành lá dài, rửa sạch ( dùng boa rô nếu không ăn hành )
- Vài cọng ngò, rửa sạch

Nhân đậu hủ:

- 1 miếng (½ kg) đậu hủ trắng
- 2 muỗng canh nấm mèo (mộc nhĩ) thái sợi, ngâm mềm
- 1 lọn (khoảng 30g) bún tàu nhỏ, ngâm mềm và cắt ngắn khoảng 2 phân

Gia vị ướp đậu hủ:

- ⅓ muỗng canh bột nêm nấm
- ¼ muỗng cà-phê muối
- 1 muỗng canh đường cát trắng
- ⅛ muỗng cà-phê tiêu
- 1 muỗng canh dầu ô-liu

Thực hiện:

Nhân đậu hủ:
- Đậu hủ rửa sạch trong nước sôi, để ráo.
- Cắt miếng nhỏ rồi cho vào túi vải, vắt ráo nước.
- Cho đậu hủ và tất cả các vật liệu cho gia vị ướp đậu hủ vào máy xay nhuyễn.
- Sau đó để vào tô, trộn thêm nấm mèo và bún tàu.

Nấu canh:
- Dùng dao rạch một đường ở giữa trái khổ qua, rồi dùng muỗng nạo bỏ ruột và hột. Cắt bỏ hai đầu, rửa sạch, để ráo.
- Sau đó luộc sơ khổ qua trong nước sôi khoảng 2 phút. (Nếu thích ăn đắng thì không cần luộc trước.)
- Dồn nhân đậu hủ vào khổ qua, dùng hành lá cột trái khổ qua lại.
- Đặt nồi lên bếp, cho nước lọc, nước súp chay, và muối vào. Cho khổ qua vào hầm cho đến khi khổ qua mềm thì tắt bếp lửa.

Trình bày:
- Múc canh khổ qua vào tô, để vài nhánh hành lá thái sợi hay ngò lên trên, dọn ăn với cơm nóng.


Vị thuốc :
Khổ Qua còn được gọi là mướp đắng, ngày nay khắp nơi đều biết cái công dụng độc đáo của nó là vị nhẫn hay đắng đó có công dụng làm hạ lượng đường trong máu. Người ta ăn khổ qua, uống trà khổ qua. Hợp chất saponin trong cái đắng của khổ qua là vị thuốc có chứa chất Chararantin (như dạng insulin) và Alkaloid. Trong mướp đắng người ta tìm ra rất nhiều dưỡng chất có lợi ích cho cơ thể như: Alkaloids, Charantin, Charine, Cryptoxanthin, Cucurbitins, Cucurbitacins, Diosgenin, Galacturonic acids, Gentisic acid, Goyaglycosides, Goyasaponins, Gypsogenin, Lanosterol, Lauric acid, Linoleic acid, Linolenic acid, Momorcharasides, Momorcharins, Momordenol, Momordicilin, Momordicins, Momordicinin, Momordicosides, Momordin, Oleanolic acid, Oleic acid, Oxalic acid, Peptides, Petroselinic acid, Polypeptides, Rubixanthin, chất đạm, chất sợi, các sinh tố A, C, Folic acid,...